Giờ Lễ Giáo Xứ Nhà Thờ Chánh Tòa Quy Nhơn Mới Nhất (nhà thờ nhọn)

122 Trần Hưng Đạo, Hải Cảng, TP. Qui Nhơn, Bình Định, Thành Phố Quy Nhơn, Bình Định

Thông tin giáo xứ

Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn là một trong những giáo xứ có vị trí đặc biệt trong lịch sử Giáo phận Qui Nhơn. Không chỉ là cộng đoàn Công Giáo lâu đời giữa trung tâm thành phố, nơi đây còn gắn liền với Nhà thờ Chính Tòa, Tòa Giám Mục và nhiều cơ sở quan trọng của giáo phận. Từ một nhóm tín hữu nhỏ hình thành bên cửa Thị Nại vào cuối thế kỷ XIX, giáo xứ từng bước phát triển cùng với sự hình thành của đô thị Qui Nhơn, trải qua chiến tranh, di dân, tái thiết và nhiều giai đoạn mở rộng hoạt động mục vụ.

Vị Trí Địa Lý Giáo Xứ Chính Tòa Qui Nhơn

Địa bàn Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn ngày nay nằm trong thành phố Qui Nhơn, bao gồm các khu vực thuộc phường Trần Hưng Đạo, Thị Nại, Hải Cảng, Lê Lợi, xã đảo Nhơn Châu cùng các thôn Hải Minh và Hải Giang thuộc xã Nhơn Hải.

Nhà thờ Chính Tòa tọa lạc tại 122 đường Trần Hưng Đạo, phường Hải Cảng, thành phố Qui Nhơn.

Với vị trí nằm ngay khu vực trung tâm đô thị, giáo xứ có mối liên hệ chặt chẽ với lịch sử hình thành thành phố cũng như sự phát triển của Giáo phận Qui Nhơn trong hơn một thế kỷ qua.

Nguồn Gốc Tên Gọi Qui Nhơn

Lịch sử tên gọi Qui Nhơn gắn liền với quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam của Đại Việt.

Năm 1470, dưới thời vua Lê Thánh Tông, phần đất mới được sáp nhập từ Chiêm Thành được đặt thuộc đạo Quảng Nam và hình thành phủ Hoài Nhơn, gồm ba huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn.

Phủ lỵ khi đó đặt tại thành Đồ Bàn, thuộc khu vực phường Đập Đá, thị xã An Nhơn ngày nay.

Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng đổi tên phủ Hoài Nhơn thành phủ Qui Nhơn và đặt chức Tuần Phủ Khám Lý để cai quản.

Đến năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần đổi tên phủ Qui Nhơn thành phủ Qui Ninh. Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát phục hồi tên gọi Qui Nhơn và dời phủ thành về phía Bắc thành Đồ Bàn.

Năm 1773, Nguyễn Nhạc mở rộng thành Đồ Bàn và xây dựng nơi đây thành Hoàng Đế Thành.

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, năm 1797 Nguyễn Ánh sử dụng tên Bình Định thay cho phủ Qui Nhơn và đổi Hoàng Đế Thành thành Bình Định Thành. Đây được xem là một trong những dấu mốc quan trọng dẫn đến sự xuất hiện của tên gọi Bình Định.

Sau khi thống nhất đất nước năm 1802, vua Gia Long tiếp tục tổ chức lại hệ thống hành chính. Năm 1832, dưới triều vua Minh Mạng, Bình Định Trấn chính thức được đổi thành tỉnh Bình Định.

Sự Hình Thành Đô Thị Qui Nhơn Bên Đầm Thị Nại

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, khu vực ven đầm Thị Nại ngày càng phát triển nhờ hoạt động giao thương đường biển.

Tư liệu liên quan đến việc xây dựng miếu Quan Thánh Đế Quân năm 1837 cho thấy vùng đất này khi đó đã có phố thị, thương thuyền, hiệu buôn và hoạt động hành chính khá phát triển.

Trong số những người đóng góp xây dựng công trình có đông đảo các chủ thuyền, thương nhân người Việt, người Hoa cùng một số quan chức triều đình.

Tuy nhiên, về mặt hành chính, khu vực sau này trở thành thành phố Qui Nhơn khi ấy vẫn thuộc thôn Vĩnh Khánh, tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước.

Sự thuận lợi của thương cảng đã thu hút ngày càng nhiều thương nhân, ngư dân và cư dân đến sinh sống. Khi dân số tăng lên, hai làng Chánh Thành và Cẩm Thượng được hình thành trên phần đất của thôn Vĩnh Khánh.

Hai làng này về sau trở thành nền tảng để thành lập thị xã Qui Nhơn.

Tên Gọi Qui Nhơn Được Sử Dụng Từ Khi Nào?

Có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm tên gọi Qui Nhơn bắt đầu được sử dụng để chỉ khu vực đô thị ven Thị Nại.

Một số tài liệu cho rằng sau khi phong trào Cần Vương suy yếu vào cuối thế kỷ XIX, chính quyền Pháp bắt đầu sử dụng tên Qui Nhơn cho đô thị hình thành tại cửa Thị Nại.

Tuy nhiên, các tài liệu truyền giáo cho thấy tên Qui Nhơn đã xuất hiện từ trước đó. Báo cáo năm 1879 của Đức cha Van Camelbeke đã đề cập đến “Lãnh sự Pháp ở Qui Nhơn”.

Trong Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874, tên cửa Thị Nại vẫn được sử dụng. Đến năm 1881, thư của Lãnh sự Pháp Vernéville đã dùng tên Qui Nhơn. Hiệp ước Quý Mùi ngày 25/8/1883 tiếp tục sử dụng tên gọi cửa biển Qui Nhơn.

Ngày 20/10/1898, Cơ Mật Viện Triều đình Huế có văn bản đề nghị thành lập thị xã Qui Nhơn.

Ngày 12/7/1899, vua Thành Thái ký chỉ dụ thành lập thị xã.

Ngày 14/3/1900, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký nghị định xác định ranh giới thị xã Qui Nhơn rộng khoảng 7 km², bao gồm hai làng Chánh Thành và Cẩm Thượng.

Ngày 30/4/1930, Toàn quyền Đông Dương Pasquier ký nghị định thành lập thành phố Qui Nhơn và chia đô thị thành năm khu phố.

Như vậy, tên gọi Qui Nhơn dành cho khu vực tiền thân của thành phố ngày nay đã xuất hiện trong tài liệu của phía Pháp từ cuối thế kỷ XIX và trở thành tên gọi chính thức của một đơn vị hành chính Việt Nam từ năm 1898.

Giáo Dân Tị Nạn Tại Cửa Thị Nại Năm 1885

Lịch sử Giáo xứ Qui Nhơn có liên hệ trực tiếp với biến cố Văn Thân năm 1885.

Ngày 4/8/1885, trước tình hình phong trào Văn Thân với chủ trương “Bình Tây Sát Tả” ngày càng khốc liệt, Đức cha Van Camelbeke truyền cho giáo dân phía Bắc Bình Định và các khu vực lân cận Làng Sông di chuyển đến cửa Thị Nại để tránh bách hại.

Giáo dân từ nhiều họ đạo như Nước Nhỉ, Nhà Đá, Đại An, Kiều Đông, Gò Thị, Nam Bình và Tân Dinh đã tìm về khu vực này tị nạn.

Sau khi phong trào Văn Thân chấm dứt, phần lớn giáo dân trở lại quê cũ vào năm 1887. Tuy nhiên, một số gia đình quyết định ở lại sinh sống tại làng chài gần cửa Thị Nại.

Những giáo dân ở lại chính là một trong những nền tảng hình thành cộng đoàn Công Giáo Qui Nhơn sau này.

Sự Phát Triển Của Cảng Qui Nhơn Và Cộng Đoàn Công Giáo

Năm 1876, vua Tự Đức cho phép Pháp thành lập lãnh sự quán tại Thị Nại sau khi dành khoảng 2,5 ha làm đất nhượng địa.

Từ đó, các cơ quan của chính quyền bảo hộ lần lượt xuất hiện. Năm 1892, Tòa Công sứ Pháp được xây dựng tại khu vực sau này là số 08 Nguyễn Huệ.

Cùng với việc khai thác cảng biển, Qui Nhơn dần trở thành một thương cảng quan trọng nằm giữa Sài Gòn và Đà Nẵng.

Đô thị ngày càng sầm uất, dân cư gồm người Việt, người Hoa, người Pháp và một số thương nhân Ấn Độ.

Trong cộng đồng cư dân mới này có nhiều tín hữu Công Giáo người Việt và người Pháp. Họ hình thành nên giáo họ Qui Nhơn, ban đầu trực thuộc Giáo xứ Làng Sông.

Xây Dựng Những Cơ Sở Công Giáo Đầu Tiên Tại Qui Nhơn

Trước sự phát triển nhanh chóng của đô thị, Đức cha Grangeon Mẫn đã trưng một khu đất có ranh giới tương ứng với các tuyến đường Trần Bình Trọng, Hàn Thuyên, Trần Hưng Đạo và Bạch Đằng ngày nay.

Năm 1903, chính quyền cấp trích lục khu đất này, đứng tên cha Louis Célestin Vallet Ngân.

Cơ sở đầu tiên của Nhà chung được xây dựng tại đây là nhà Quản lý.

Cha Vallet khi ấy thường từ Làng Sông xuống Qui Nhơn để tiếp nhận hàng hóa và thư từ. Nhận thấy số tín hữu Việt Nam và người nước ngoài tại đô thị ngày càng tăng, cha đã dựng một nhà thờ tạm để phục vụ nhu cầu mục vụ.

Ngôi nhà thờ nhỏ này nằm trong khuôn viên Tòa Giám Mục Qui Nhơn ngày nay.

Thành Lập Giáo Xứ Qui Nhơn Năm 1905

Năm 1905, Giáo xứ Qui Nhơn chính thức được thành lập.

Thời điểm đó giáo xứ có khoảng 294 giáo dân, trong đó khoảng 50 người châu Âu.

Cha Louis Célestin Vallet Ngân được bổ nhiệm làm cha chính xứ đầu tiên.

Đây là cột mốc quan trọng mở đầu cho lịch sử hơn một thế kỷ của Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn.

Trong nhiệm kỳ từ năm 1905 đến năm 1908, cha Vallet cũng thành lập giáo họ Xóm Cát, tiền thân của Giáo xứ Qui Hòa ngày nay.

Các Cha Sở Giáo Xứ Qui Nhơn Giai Đoạn 1905 – 1945

Sau cha Louis Célestin Vallet Ngân, Giáo xứ Qui Nhơn lần lượt được các linh mục coi sóc.

Cha Paul Emile Mathey phục vụ từ năm 1908 đến 1911, kế tiếp là cha Guillaume David Yên từ năm 1911 đến 1912, cha Henri Bonhomme Toại từ năm 1912 đến 1914 và cha Jules Joseph Saulot Lượng từ năm 1914 đến 1917.

Từ năm 1917 đến 1923, cha Tôma Thiềng phụ trách mục vụ cho tín hữu Việt Nam tại Qui Nhơn.

Trong thời kỳ này, một số gia đình Công Giáo ở khu dân cư làng chài phải di chuyển do việc chỉnh trang đô thị. Sau nhiều lần chuyển chỗ ở, họ đến định cư tại khu Gò Rộng.

Cha Tôma Thiềng thường xuyên đến chăm sóc mục vụ và ban các Bí tích. Một nhà nguyện bằng tranh, vách đất dần được hình thành.

Về sau, dưới thời cha Pierre Sanctuaire Khánh, giáo họ Gò Rộng chính thức ra đời.

Trong giai đoạn này, giáo họ Hội Lộc, còn được gọi là họ Đầm, cũng được sáp nhập vào Giáo xứ Qui Nhơn.

Cha Antôn Huỳnh Ngọc Thạnh coi sóc giáo xứ từ năm 1923 đến 1929.

Cha Pierre Sanctuaire Khánh đảm nhiệm từ năm 1929 đến 1932, có cha GB. Nguyễn Khắc Trung làm cha phó.

Giáo Xứ Qui Nhơn Phát Triển Mạnh Trong Thập Niên 1930

Từ năm 1932 đến 1941, cha Jules Vincent Labiausse Sáng làm cha sở.

Đây là thời kỳ có nhiều biến chuyển quan trọng đối với giáo xứ cũng như toàn Giáo phận Qui Nhơn.

Năm 1932, Trường Gagelin tại Kim Châu do các sư huynh Lasan phụ trách được chuyển về Qui Nhơn.

Năm 1933, một trận bão lớn làm sập nhà thờ Gò Rộng và cha Labiausse Sáng đã tổ chức xây dựng lại.

Cũng trong năm 1933, Đại Chủng Viện Đại An được chuyển về Đại Chủng Viện Qui Nhơn. Công trình này trước đó đã được Đức cha Tardieu Phú khởi công xây dựng từ năm 1930.

Năm 1935, nhà in Làng Sông được chuyển về Qui Nhơn.

Đầu năm 1936, Tòa Giám Mục Qui Nhơn do Đức cha Tardieu Phú xây dựng được khánh thành.

Cũng trong năm 1936, giáo họ Qui Hải được thành lập. Các nữ tu Bác Ái Vinh Sơn đến Qui Nhơn mở trường tiểu học và cô nhi viện.

Đặc biệt, ngày 10/12/1939, Nhà thờ Chính Tòa Qui Nhơn chính thức được khánh thành.

Từ thời điểm này, Giáo xứ Qui Nhơn ngày càng được gọi phổ biến là Giáo xứ Chính Tòa.

Giáo Xứ Trong Biến Cố Năm 1945

Cha Pierre Sanctuaire Khánh trở lại coi sóc giáo xứ lần thứ hai trong giai đoạn 1941-1945.

Ngày 9/3/1945, quân Nhật đảo chính Pháp và kiểm soát Qui Nhơn. Các thừa sai Pháp tại nhiều nhiệm sở phải tập trung về Tòa Giám Mục.

Do Đức cha Piquet không thể trực tiếp điều hành giáo phận như trước, cha Phêrô Đặng Quyền Huy được bổ nhiệm làm Đại diện Thừa ủy.

Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh ngày 15/8/1945, Việt Minh giành chính quyền.

Ngày 21/11/1945, theo yêu cầu của chính quyền đương thời, Đức cha Piquet cùng các thừa sai và nữ tu ngoại quốc phải rời Qui Nhơn ra Huế.

Cha Phaolô Nguyễn Minh Đoan sau đó đảm nhận việc điều hành Giáo xứ Qui Nhơn.

Giáo Xứ Qui Nhơn Trong Thời Kỳ Kháng Chiến 1946 – 1954

Đầu năm 1946, người dân Qui Nhơn phải thực hiện lệnh tản cư.

Cha Phaolô Nguyễn Minh Đoan rời giáo xứ về Mỹ Cang, sau đó đến Suối Nổ và qua đời tại đây năm 1949.

Sau ngày 19/12/1946, chiến tranh lan rộng và đến tháng 3/1947, chính sách tiêu thổ kháng chiến được triển khai tại Qui Nhơn.

Nhiều công trình Công Giáo đứng trước nguy cơ bị phá hủy.

Một phái đoàn của giáo phận gồm cha Phêrô Đặng Quyền Huy, cha Phaolô Trương Công Chánh, cha Giuse Lê Văn Ly và cha Augustinô Nguyễn Cao Thìn đã nhiều lần làm việc với chính quyền để xin bảo vệ các cơ sở tôn giáo.

Cuối cùng, Nhà thờ Chính Tòa, Tòa Giám Mục và Đại Chủng Viện được giữ lại, mặc dù nhiều công trình khác như Trường Gagelin, cơ sở của các nữ tu Bác Ái Vinh Sơn, nhà in và nhà Quản lý đã bị phá hủy.

Trong khoảng thời gian từ năm 1946 đến năm 1955, Giáo xứ Qui Nhơn không có cha sở thường trú.

Cha Phêrô Đặng Quyền Huy với tư cách Đại diện Thừa ủy đã điều hành giáo xứ trong những năm 1950-1954 cho đến khi qua đời ngày 23/11/1954.

Khôi Phục Giáo Xứ Chính Tòa Sau Năm 1954

Từ năm 1955, cha Phêrô Nguyễn Đình Tịch đảm nhận Giáo xứ Qui Nhơn.

Sau nhiều năm chiến tranh và tản cư, cơ sở giáo xứ cần được phục hồi.

Cha giao cho thầy Giuse Nguyễn Hữu Ngợi tu sửa nhà xứ và thầy Phêrô Nguyễn Quang Báu đi thu gom lại bàn ghế, các chặng Đàng Thánh Giá cùng những vật dụng của nhà thờ trước đó được phân tán tại nhiều nơi.

Những vật dụng này được vận chuyển bằng ghe qua đầm Thị Nại trở về Nhà thờ Chính Tòa.

Trong giai đoạn 1955-1964, đời sống Công Giáo Tiến hành tại giáo xứ phát triển rất mạnh với các hội đoàn như Hiệp Hội Thánh Mẫu, Legio Mariae, Bác Ái Vinh Sơn và Nữ đoàn Bác Ái.

Nhiều Giáo Họ Mới Được Thành Lập

Dưới thời cha Phêrô Nguyễn Đình Tịch, hàng loạt giáo họ mới được hình thành.

Năm 1955 thành lập giáo họ Hòa Ninh.

Năm 1957 có giáo họ Vân Canh.

Năm 1958 hình thành các giáo họ Hải Giang, Hải Minh, Nhơn Hải, Nhơn Lý, Nhơn Châu và Phú Huề.

Năm 1959 thành lập giáo họ Ghềnh Ráng.

Năm 1960 có giáo họ Xuân Quang.

Năm 1962 hình thành giáo họ Khu Sáu và Đồng Tiến.

Năm 1964, giáo họ Qui Hải được tái lập.

Theo thông cáo của Tòa Giám Mục Qui Nhơn ngày 1/6/1968, giáo họ Nhà thờ Khu Sáu được đổi tên thành Qui Hiệp.

Qua thời gian, Hòa Ninh, Ghềnh Ráng, Xuân Quang, Qui Hiệp và Đồng Tiến lần lượt phát triển thành các giáo xứ độc lập.

Giáo Xứ Chính Tòa Trong Những Năm Chiến Tranh 1964 – 1975

Từ năm 1964 đến 1970, cha Giuse Nguyễn Sồ đảm nhận chức vụ cha sở Qui Nhơn, đồng thời giữ nhiều nhiệm vụ khác như Hạt trưởng Qui Nhơn, Quản lý giáo phận và Giám đốc Caritas giáo phận.

Từ khoảng tháng 10/1964, chiến tranh khiến đông đảo người dân từ các vùng quê đổ về Qui Nhơn tị nạn.

Cha Giuse Nguyễn Sồ tích cực tổ chức tiếp cư, tạm cư và cứu trợ. Nhiều trại tạm cư được hình thành tại Khu I, Khu VI, Ghềnh Ráng, Xuân Quang, Qui Đức và Đồng Tiến.

Chính những cộng đồng đông giáo dân tại đây về sau trở thành nền tảng cho sự phát triển của các giáo xứ Qui Hiệp, Đồng Tiến, Qui Đức, Xuân Quang và Ghềnh Ráng.

Cha Phaolô Huỳnh Tấn Ngoan coi sóc giáo xứ từ năm 1970 đến 1973.

Từ năm 1973 đến 1975, cha Giuse Tô Đình Sơn đảm nhận nhiệm vụ cha sở.

Các Cha Sở Giáo Xứ Chính Tòa Sau Năm 1975

Từ năm 1975 đến 1986, Đức cha Giuse Phan Văn Hoa trực tiếp coi sóc Giáo xứ Chính Tòa. Các cha Giuse Võ Đình Sen và Phaolô Lê Văn Nhơn cùng cộng tác mục vụ.

Giai đoạn 1986-1992, Đức cha Phaolô Huỳnh Đông Các đảm nhận giáo xứ. Các linh mục cộng tác gồm cha Phêrô Nguyễn Soạn, cha Ignatiô Huỳnh Đắc Nhì, cha Giuse Võ Đình Sen và cha Phaolô Lê Văn Nhơn.

Từ năm 1992 đến năm 2000, cha Tổng Đại Diện Phêrô Nguyễn Soạn làm cha sở.

Giai đoạn 2000-2005, cha Anrê Huỳnh Thanh Khương đảm nhiệm.

Từ năm 2005 đến năm 2010, cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi làm chính xứ.

Từ năm 2010, cha Giuse Lê Kim Ánh được bổ nhiệm làm cha sở, cùng sự cộng tác của nhiều linh mục phó xứ qua các thời kỳ.

Lịch Sử Xây Dựng Nhà Thờ Chính Tòa Qui Nhơn

Trước khi Tòa Giám Mục được chuyển về Qui Nhơn, trung tâm của Giáo phận đặt tại Làng Sông.

Nhà thờ của Tiểu Chủng Viện Làng Sông khi ấy được sử dụng như Nhà thờ Chính Tòa của giáo phận.

Công trình này do Đức cha Van Camelbeke Hân khởi công xây dựng năm 1892 với kiểu kiến trúc cổ, mái ngói, tường gạch và bốn hàng cột bằng gỗ quý.

Khi Đức cha Augustinô Tardieu Phú đảm nhận Giáo phận Qui Nhơn từ năm 1930, Tòa Giám Mục cùng Sở Quản lý Nhà chung được chuyển xuống thành phố Qui Nhơn.

Nhà thờ giáo xứ nhỏ nằm trong khuôn viên Tòa Giám Mục được sử dụng tạm thời làm Nhà thờ Chính Tòa.

Khởi Công Nhà Thờ Chính Tòa Năm 1938

Sau khi xây dựng Tòa Giám Mục, Đức cha Tardieu Phú quyết định xây dựng một Nhà thờ Chính Tòa mới.

Công trình chính thức khởi công ngày 1/10/1938, do hội kiến trúc SIDEC thực hiện.

Cha Dorgeville đại diện giáo phận theo dõi và giám sát quá trình thi công.

Ngày 10/11/1939, công trình cơ bản hoàn tất.

Đúng một tháng sau, ngày 10/12/1939, Nhà thờ Chính Tòa Qui Nhơn được long trọng khánh thành và dâng kính Đức Mẹ Mân Côi.

Tham dự ngày lễ có nhiều giám mục, linh mục, chủng sinh, tu sĩ thuộc các hội dòng cùng đông đảo giáo dân trong và ngoài Qui Nhơn.

Kiến Trúc Nhà Thờ Chính Tòa Qui Nhơn

Nhà thờ Chính Tòa được xây dựng theo mặt bằng hình thánh giá.

Công trình có chiều dài khoảng 57,5 mét, chiều rộng 22,6 mét.

Hai hàng cột bê tông cốt thép chia không gian bên trong thành ba gian. Gian chính giữa rộng khoảng 8 mét.

Cung thánh rộng khoảng 8 mét và dài 14,5 mét. Phía sau cung thánh có năm bàn thờ phụ.

Nhà thờ có sức chứa khoảng 1.500 người.

Điểm nổi bật nhất của công trình là tháp chuông nhọn cao khoảng 47,2 mét, vươn lên giữa khu vực trung tâm Qui Nhơn và trở thành một trong những dấu ấn kiến trúc quen thuộc của thành phố.

Dù trải qua chiến tranh kéo dài từ năm 1945 đến năm 1975, Nhà thờ Chính Tòa vẫn được bảo tồn. Đối với nhiều tín hữu, đây được xem như một dấu chỉ đặc biệt về sự che chở của Đức Maria.

Quả Chuông Lớn Trên Tháp Nhà Thờ

Ngày 23/2/1962, một quả chuông lớn nặng khoảng 1.800 kg, đường kính 1,25 mét được đưa lên tháp Nhà thờ Chính Tòa ở độ cao khoảng 25 mét.

Quả chuông ban đầu thuộc Nhà thờ Saint Pancratius tại Chicago, Hoa Kỳ.

Cha Robert Niec đã dâng tặng quả chuông với ý nghĩa hòa bình và tình hữu nghị.

Chuông được vận chuyển bằng tàu đến Sài Gòn ngày 27/1/1962 và được đưa về Qui Nhơn ngày 14/2/1962.

Cải Tạo Cung Thánh Và Bàn Thờ

Ngày 19/3/1963, một bàn thờ bằng khối hồng thạch được đặt tại cung thánh.

Bàn thờ dài khoảng 3 mét, rộng 1,1 mét và cao 1 mét, được chế tác từ đá khai thác tại Non Nước, Đà Nẵng.

Cùng thời điểm này, cung thánh và lối đi giữa lòng nhà thờ được lát gạch bông.

Tượng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được đặt trên trụ granito cạnh bàn thờ.

Nhà thờ ban đầu được dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Tuy nhiên, từ ngày 25/6/1961, sau nghi thức đăng tòa của Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, tước hiệu Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được chọn làm bổn mạng Nhà thờ Chính Tòa.

Trường Sao Biển Và Cô Nhi Viện Thánh Phaolô

Trong thời cha Phêrô Nguyễn Đình Tịch, nhiều công trình phục vụ giáo dục và bác ái được xây dựng.

Cha cho thành lập Trường Tiểu học Sao Biển bên cạnh Nhà thờ Chính Tòa và giao cho các sư huynh Lasan phụ trách.

Cô nhi viện Thánh Phaolô cũng được thành lập tại phía Tây khuôn viên nhà thờ.

Khu vực này về sau trở thành Tu viện Phaolô.

Xây Dựng Hội Trường Nhà Thờ Chính Tòa

Năm 1974, cha Giuse Tô Đình Sơn khởi công xây dựng hội trường Nhà thờ Chính Tòa.

Thiết kế ban đầu gồm ba tầng, tuy nhiên trong giai đoạn đầu mới hoàn thành hai tầng thì công trình phải tạm dừng.

Tòa nhà này về sau tiếp tục được hoàn thiện và trở thành một phần quan trọng trong hệ thống cơ sở của giáo xứ.

Tu Sửa Nhà Thờ Nhân Kỷ Niệm 50 Năm

Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm xây dựng Nhà thờ Chính Tòa Qui Nhơn 1939-1989, Đức cha Phaolô Huỳnh Đông Các cho tiến hành tu sửa ngôi thánh đường.

Gian cung thánh được lát đá hoa cương, nhà thờ được sơn quét lại và hệ thống tường rào, cổng ngõ được xây dựng kiên cố hơn.

Đại lễ kỷ niệm 50 năm được tổ chức long trọng, đánh dấu một chặng đường quan trọng của Nhà thờ Chính Tòa.

Xây Dựng Hang Đá Đức Mẹ Lộ Đức

Dưới thời Đức cha Phaolô Huỳnh Đông Các, Hang Đá Đức Mẹ Lộ Đức được xây dựng bên cạnh Nhà thờ Chính Tòa.

Thầy F.X. Lữ Minh Điểm phụ trách phần kết cấu, trong khi cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi phụ trách mỹ thuật.

Công trình được làm phép ngày 7/11/1991.

Hang đá trở thành một trong những địa điểm cầu nguyện quen thuộc của giáo dân Qui Nhơn.

Đồng Hồ Bốn Mặt Trên Tháp Chuông

Năm 1992, một hệ thống đồng hồ điện tử bốn mặt được lắp đặt trên tháp Nhà thờ Chính Tòa.

Tiếng chuông điểm giờ kết hợp cùng giai điệu thánh ca “Ave Ave Ave Maria” dần trở thành âm thanh quen thuộc đối với nhiều thế hệ cư dân thành phố.

Không chỉ phục vụ việc báo giờ, chiếc đồng hồ cùng tiếng nhạc còn tạo nên một nét riêng của khu vực Nhà thờ Chính Tòa giữa lòng Qui Nhơn.

Xây Dựng Nhà Thờ Hội Lộc

Trong thời gian làm cha sở Chính Tòa, cha Phêrô Nguyễn Soạn cho xây dựng một nhà thờ mới tại Hội Lộc thuộc bán đảo Phương Mai.

Công trình khởi công năm 1995 và hoàn thành năm 1996.

Thời điểm đó chưa có cầu Thị Nại nên toàn bộ vật liệu xây dựng phải vận chuyển bằng ghe thuyền, khiến việc thi công gặp nhiều khó khăn.

Các linh mục Giáo xứ Chính Tòa thường xuyên đến Hội Lộc cử hành Thánh lễ Chúa Nhật.

Ngày 28/8/2005, cha Gioakim Dương Minh Thanh được bổ nhiệm đặc trách Hội Lộc và thường trú tại đây.

Đến ngày 17/9/2009, Hội Lộc chính thức được nâng lên thành giáo xứ.

Xây Dựng Nhà Xứ Mới

Dưới thời cha Tổng Đại Diện Anrê Huỳnh Thanh Khương, tòa nhà hội trường được nâng thêm một tầng để hoàn chỉnh theo kiến trúc ban đầu và sử dụng làm nhà xứ.

Công trình khởi công ngày 5/9/2000 và hoàn thành ngày 20/12/2000.

Tòa nhà gồm ba tầng, dài khoảng 42 mét và rộng 15,6 mét.

Bên trong có phòng dành cho cha sở, cha phó, thầy giúp xứ, phòng họp, phòng khách, phòng truyền thống cùng hội trường phục vụ sinh hoạt cộng đoàn.

Nhà An Bình Giáo Xứ Chính Tòa

Để đáp ứng nhu cầu lưu giữ hài cốt của các tín hữu, giáo xứ xây dựng Nhà An Bình.

Công trình khởi công ngày 18/6/2001 và được làm phép ngày 29/11/2001.

Nhà dài khoảng 20 mét, rộng 4 mét. Chính giữa có một công trình hình lục giác phục vụ việc cử hành Thánh lễ.

Nhà An Bình có khả năng lưu giữ khoảng 2.200 quách hài cốt và trở thành nơi thuận tiện để thân nhân đến thăm viếng, cầu nguyện.

Tượng Đài Và Quảng Trường Thánh Giuse

Để mở rộng không gian sinh hoạt, giáo xứ tiếp tục xây dựng khu vực Tượng đài và Quảng trường Thánh Giuse.

Công trình được khởi công ngày 10/2/2003 và khánh thành ngày 1/5/2003, đúng lễ Thánh Giuse Thợ.

Tượng Thánh Giuse cao khoảng 2,4 mét.

Lễ đài rộng khoảng 22 x 9 mét, cao 1,2 mét, tạo điều kiện thuận lợi cho những Thánh lễ và sự kiện lớn ngoài trời.

Ngày khánh thành cũng là dịp tổ chức lễ truyền chức linh mục cho bảy phó tế.

Trùng Tu Nhà Thờ Chuẩn Bị Kỷ Niệm 100 Năm Giáo Xứ

Để chuẩn bị mừng 100 năm thành lập Giáo xứ Qui Nhơn 1905-2005, cha Anrê Huỳnh Thanh Khương tiến hành nhiều hạng mục chỉnh trang Nhà thờ Chính Tòa.

Bên trong nhà thờ được sơn lại, nền xi măng cũ được thay bằng gạch mới, cung thánh được mở rộng, nâng cao và lát đá granite.

Khi những hạng mục chính vừa hoàn thành, cha Anrê đột ngột qua đời ngày 13/1/2005.

Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn tiếp tục cho hoàn thiện việc sơn bên ngoài nhà thờ và lắp đặt hệ thống âm thanh mới.

Sau khi cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi đảm nhận giáo xứ, toàn bộ bàn ghế dành cho giáo dân trong nhà thờ cũng được đóng mới.

Đại Lễ 100 Năm Thành Lập Giáo Xứ Chính Tòa

Chiều ngày 12/8/2005, Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn long trọng cử hành Thánh lễ tạ ơn mừng 100 năm thành lập.

Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn, Giám mục Giáo phận Qui Nhơn, chủ tế Thánh lễ cùng 48 linh mục đồng tế.

Đông đảo tu sĩ thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn, Dòng Thánh Phaolô Đà Nẵng, Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ cùng giáo dân trong và ngoài giáo xứ tham dự.

Trong Thánh lễ này, Đức Giám mục chính thức bổ nhiệm cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi làm chính xứ Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn.

Sau Thánh lễ, chương trình diễn nguyện được tổ chức tại Quảng trường Thánh Giuse, khép lại ngày đại lễ kỷ niệm một thế kỷ hình thành và phát triển của giáo xứ.

Xây Dựng Nhà Giáo Lý

Ngày 26/2/2007, cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi khởi công xây dựng Nhà Giáo lý trên khu đất phía sau Nhà thờ Chính Tòa.

Công trình có tổng diện tích sử dụng khoảng 680 m².

Sau khoảng một năm xây dựng, Nhà Giáo lý được hoàn thành.

Ngày 15/3/2008, Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn làm phép công trình và đưa vào phục vụ việc giảng dạy giáo lý cũng như các sinh hoạt của giáo xứ.

Dấu Ấn Hơn Một Thế Kỷ Của Giáo Xứ Chính Tòa Qui Nhơn

Từ một cộng đoàn nhỏ hình thành giữa khu vực cửa Thị Nại vào cuối thế kỷ XIX, Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn đã trải qua nhiều giai đoạn đặc biệt của lịch sử.

Giáo xứ từng chứng kiến phong trào Văn Thân, thời kỳ thuộc địa, chiến tranh, tản cư, tiêu thổ, những đợt di dân quy mô lớn và công cuộc tái thiết sau chiến tranh.

Từ Giáo xứ Qui Nhơn ban đầu, nhiều giáo họ được thành lập và từng bước phát triển thành những giáo xứ độc lập, góp phần mở rộng đời sống Công Giáo trên địa bàn thành phố Qui Nhơn và các vùng lân cận.

Đặc biệt, Nhà thờ Chính Tòa với ngọn tháp cao nổi bật giữa trung tâm thành phố đã trở thành một biểu tượng quen thuộc không chỉ đối với cộng đồng Công Giáo mà còn đối với nhiều thế hệ người dân Qui Nhơn.

Trải qua hơn một thế kỷ, Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống mục vụ của Giáo phận, đồng thời lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử, kiến trúc và văn hóa gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của thành phố Qui Nhơn.

  1. Giờ Lễ Giáo Xứ Nhà Thờ Chánh Toà Nha Trang Mới Nhất (Nhà Thờ Đá)
  2. Giờ Lễ Giáo Xứ Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng Mới Nhất
  3. Giờ Lễ Giáo Xứ Nhà Thờ Chánh Toà Đà Lạt Mới Nhất (Nhà Thờ Con Gà)

Giờ lễ

Chúa nhật: 05:00, 07:00, 08:30, 17:30
Thứ bảy: -
Ngày thường: 05:30, 17:30

Thông tin giáo xứ

Giáo phận Quy Nhơn
Giáo hạt Quy Nhơn
Năm thành lập 1939
Bổn mạng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

Lời kêu gọi

Giờ lễ và các thông tin có thể bị thay đổi. Nếu bạn phát hiện thông tin sai lệch, xin vui lòng đóng góp để chúng tôi cập nhật chính xác hơn. Xin cám ơn!

Đóng góp thông tin